Sản Phẩm
Chè đen CTC
Chè đen OTD
Chè Ô Long
Chè túi lọc
Chè xanh
Bảng giá
Google
  
Khách: 307950
TRANG CHỦGIỚI THIỆUNHÀ MÁYVIDEO CLIPTIN TỨCĐỐI TÁCLIÊN HỆ
định hướng - giải pháp phát triển sản xuất chè đến năm 2010 In E-mail
Người viết: Le Dinh   
02/01/2010
 

định hướng - giải pháp phát triển sản xuất chè đến năm 2010

PTS. Nguyễn Kim Phong

Tổng giám đốc - Tổng công ty chè Việt Nam

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

Sản xuất chè trong mấy năm gần đây phát triển theo hướng tăng dần về diện tích, sản lượng, công nghệ chế biến hiện đại được đưa dần vào sản xuất, thị trường được mở rộng, tăng thu nhập đáng kể cho người trồng chè.

 

Để Quyết định 43/1999/QĐ-TTg ngày 10/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch sản xuất chè năm 1999-2000 và định hướng phát triển chè đến năm 2005-2010 trở thành hiện thực, Ngành chè đã có những giải pháp toàn diện. Tuy nhiên để giúp ngành chè, tác giả nêu những kiến nghị với Nhà nước về tổ chức quản lý và chính sách khuyến khích sản xuất cây chè ở nước ta.

Chè là loại cây công nghiệp dài ngày được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Lâm Đồng. Sản xuất chè trong nhiều năm qua đã đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu kim ngạch hàng chục triệu đô la mỗi năm. Tuy có những thời điểm giá chè xuống thấp làm cho người trồng chè gặp nhiều khó khăn nhưng nhìn tổng thể, cây chè vẫn giữ vị trí quan trọng đối với nền kinh tế. Vì vậy việc phát triển sản xuất chè là một hướng quan trọng nhằm thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp và kinh tế nông thôn nước ta.

1) Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ

Trong 5 năm từ 1993-1997 diện tích và sản lượng chè đều tăng, bình quân mỗi năm diện tích tăng 4,03%, sản lượng tăng 4,2%. Năm 1997 diện tích đạt 78174 ha, sản lượng 47000 tấn chè búp khô. Năm 1998 sau khi thanh lý7982 ha và trồng mới thêm 2600 ha thì diện tích chè còn khoảng 73000 ha, sản lượng đạt trên 50000 tấn búp khô.

Năng suất bình quân cả nước đạt 3,68 tấn tươi/ha so với thế giới thì năng suất chè của ta thuộc loại thấp. Tuy nhiên đã có nhiều vườn chè đạt năng suất 15-16 tấn tươi/ha, cá biệt có vườn chè đạt năng suất 25 tấn tươi/ha. Các nông trường Mộc Châu đạt 10 tấn/ha, Thanh niên 9,7 tấn/ha, Phú Sơn 9,5 tấn/ha, Trần Phú 9 tấn/ha.

Có nhiều giống chè hiện đang trồng nhưng chủ yếu là giống chè Trung du (chiếm 59% diện tích) được trồng phổ biến ở vùng núi thấp và trung du. Giống chè Shan chiếm 27,3 % trồng phổ biến ở vùng núi và vùng cao độ cao từ 500m. Gần đây ta có nhập một số giống chè của nước ngoài (Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản) như: Bát Tiên, Văn Xương, Ngọc Thúy, Kim Huyên, Yabukita... có chất lượng cao. Tập đoàn giống tuy có nhiều nhưng trong sản xuất đại trà phần lớn vẫn là giống địa phương, chỉ có khoảng 10% giống mới và giống đã qua chọn lọc như PH1, TB11-TB14, LDP1, LDP2... vườn chè được trồng chủ yếu bằng hạt nên về hình thái, kích thước thân, lá, búp của cây chè không đồng đều.

Về canh tác, đầu tư cho trồng và chăm sóc chè đều thấp so với yêu cầu.

Cả nước có 72 cơ sở chế biến công nghiệp, với tổng công suất 1129 tấn tươi/ngày (chế biến trên 60%sản lượng búp tươi hiện có) và chủ yếu là chế biến chè xuất khẩu (843,5 tấn/ngày). Trong số đó Tổng công ty chè quản lý 28 cơ sở với tổng công suất 571,5 tấn tươi/ngày, các địa phương quản lý 44 cơ sở với tổng công suất 557,5 tấn tươi/ngày. Ngoài ra còn có hơn 1200 cơ sở chế biến quy mô nhỏ và hàng chục ngàn lò chế biến thủ công của các hộ gia đình.

Chế biến chè đen xuất khẩu theo công nghệ Orthodox và CTC. Thiết bị Orthodox nhập từ Liên Xô trước đây vào những năm 1957-1977 đến nay đều đã cũ, sửa chữa thay thế bằng các phụ tùng trong nước nhiều lần, tuy vẫn đang hoạt động song đã bộc lộ nhược điểm ở các khâu lên men, sấy, hút bụi phòng sàng... nên ảnh hưởng xấu đến chất lượng sản phẩm. Trong năm 1998 đã nhập 4 dây chuyền thiết bị đồng bộ, hiện đại của
n Độ chế biến chè đen Orthodox.

Còn về chế biến chè xanh, mấy năm gần đây bằng con đường liên doanh hợp tác với nước ngoài ta đã có được các dây chuyền thiết bị và công nghệ của Nhật Bản (tại Công ty chè Sông Cầu, Mộc Châu), của Đài Loan (Công ty chè Mộc Châu) chủ yếu sản xuất để xuất khẩu sang các thị trường này. Qua thời gian sử dụng cho thấy loại thiết bị này có công suất vừa, công nghệ hiện đại, sản phẩm đạt chất lượng khá tốt, giá bán khá cao, sản phẩm vừa để xuất khẩu vừa tiêu thụ nội địa, đặc biệt là công nghệ chế biến chè xanh Đài Loan đã cho sản phẩm bán với giá 80000đ/kg được người tiêu dùng trong nước chấp nhận.

Thị trường nội địa tiêu thụ chủ yếu là chè xanh. Tuy vậy nhu cầu về các loại chè khác đang dần tăng lên, ước tính mức tiêu thụ đầu người là 260gr/năm (1997). Con số này là thấp so với các nước có thói quen uống chè xanh (Đài Loan 1300gr, Nhật Bản 1050gr, Trung Quốc 340 gr, Hồng Kông 1400gr).

Chè của Việt Nam đã được xuất khẩu tới khoảng 30 nước trên thế giới, hầu hết là chè đen chế biến theo công nghệ Orthodox. Bên cạnh những bạn hàng quen thuộc là các nước SNG, Đông Âu thì đã có những bạn hàng mới như: Trung Cận Đông, Anh, Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ... Tuy vậy do chất lượng còn thấp nên uy tín của chè Việt Nam trên thị trường quốc tế chưa cao.

Giá chè thế giới bình quân ở mức 2,22 USD/kg (năm 1997 - số liệu của FAO), thì Việt Nam chỉ xuất khẩu được với giá bình quân 1,44 USD/kg. Tuy vậy một số cơ sở liên doanh, liên kết với nước ngoài cũng đã xuất được chè với giá khá cao: Chè xanh Nhật 2,2-4,5 USD/kg, chè xanh Đài Loan 1,8-2,0USD/kg nhưng số lượng còn ít. Sản lượng xuất khẩu trong 10 năm qua (1989-1998)vào khoảng 186000tấn, năm 1998 xuất khẩu cao nhất đạt 33,5 nghìn tấn, với kim ngạch xuất khẩu 50 triệu USD.

2) Đánh giá chung

Những mặt được:

- Chè Việt Nam phát triển tăng dần cả về diện tích và sản lượng, đã hình thành những vùng sản xuất tập trung, duy trì được những vùng chè đặc sản góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy năng suất bình quân cả nước còn thấp nhưng một số doanh nghiệp đã đạt được năng suất chè búp tươi bình quân khá cao.

- Các công ty chế biến đã có những chuyển biến khá mạnh. Các xí nghiệp liên doanh và hợp tác với nước ngoài về sản xuất chè đã thu hút hàng triệu USD vốn đầu tư, tiếp thu được thiết bị - kỹ thuật - công nghệ mới và hiện đại.

- Ngành chè đã mở ra thêm được một số thị trường xuất khẩu khá lớn tạo điều kiện cho sản xuất ổn định, tăng được giá mua chè búp tươi (2259đ/kg bình quân 1998) làm thu nhập cho người làm chè khá lên. Năm 1998 đã thu mua chè tươi với giá trị tiền mặt là 506 tỷ đồng.

Những tồn tại:

- Trong quá trình trồng mới các vườn chè trước đây không có giống tốt, giống đặc sản, nên chất lượng chè búp tươi thấp, năng suất vườn chè thấp do lượng đầu tư không đủ. Bón quá nhiều phân hóa học dẫn đến tình trạng đất đai bị nghèo kiệt dinh dưỡng và trai cứng. Cây bóng mát trong vườn chè quá ít.

- Trồng và sản xuât chè con độc canh, chưa chú ý đến chăn nuôi và các loại cây trồng khác.

- Thiết bị chậm được đổi mới, thực hiện quy trình kỹ thuật yếu nên chất lượng sản phẩm chưa cao, sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế thấp.

- Ngành chè chưa đa dạng hóa sản phẩm ở mức sản xuất hàng hóa.

- Thị trường tiêu thụ chưa thực sự bền vững.

- Cán bộ khoa học kỹ thuật thiếu nhiều do địa bàn sản xuất chủ yếu là trung du - miền núi.

- Tổ chức quản lý ngành chè chưa ổn định, vấn đề quản lý giữa trung ương và địa phương, quản lý ngành và theo lãnh thổ còn cần phải làm rõ thêm.

- Chưa có chính sách đặc thù cho ngành chè, người đầu tư vào cây chè bị thiệt thòi rất nhiều so với đầu tư vào các ngành hàng khác.

3) Điều kiện phát triển:

+ Điều kiện tự nhiên: Đất đai, khí hậu ở nhiều vùng thích hợp để trồng chè chất lượng cao như Thái Nguyên, Mộc Châu, Lâm Đồng (trong 35 tỉnh trồng chè có 1300 xã năm ở vùng nghèo). Mặt khác những vùng trồng chè đặc biệt ở miền Bắc không có các cây trồng khác cạnh tranh với cây chè.

+ Nông dân ta có kinh nghiệm về trồng chè. Nếu được cung cấp giống tốt, có đầy đủ điều kiện về vật tư và được hướng dẫn kỹ thuật canh tác tiên tiến thì năng suất và chất lượng chè có thể được nâng cao hơn nhiều.

+ Thị trường nội địa còn khả năng mở rộng. Hiện nay mức tiêu thụ của người Việt Nam còn thấp so với nhiều nước.

+ Xuất khẩu chè có nhiều triển vọng phát triển. Mặc dù thị trường quốc tế về chè bị cạnh tranh gay gắt song qua thực tế vài năm gần đây cho thấy nếu chất lượng chè tốt và giá cả hợp lý thì Việt Nam vẫn có thể mở rộng được thị trường. Đối với chè đen xuất sang các nước Trung Cận Đông, thị trường Mỹ và châu Âu. Đối với chè xanh, thị trường châu
á... là những thị trường có nhiều tiềm năng.

* *

*

Về nội tiêu, bình quân đầu người tiêu thụ 260g/năm (1997), dự kiến mức tiêu thụ bình quân đầu người sẽ tăng 5-6% năm, như vậy tổng mức nội tiêu sẽ tăng từ 20000tấn/năm (1997) lên 24000 tấn năm 2000; 35000tấn năm 2005 và năm 2010 sẽ tiêu thụ khoảng 45000 tấn.

Về xuất khẩu, nhu cầu tiêu thụ chè trên thế giới rất lớn, trong khi đó xuất khẩu chè của Việt Nam chỉ đạt khoảng 2%. Xuất khẩu có thể đạt 37000 tấn vào năm 1999, năm 2000 đạt 42000 tấn, và năm 2010 đạt 120000tấn.

Mục tiêu là: Xây dựng ngành chè Việt Nam thành ngành sản xuất đa dạng, tận dụng các loại cây thuộc đồ uống để tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau. Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng chè trong nước, tăng xuất khẩu, đồng thời nâng cao đời sống, tạo thêm việc làm cho người làm chè. Một số chỉ tiêu chủ yếu được đề cặp trong bảng sau đây:

Năm

Chỉ tiêu

1999

2000

2005

2010

Tổng diện tích chè cả nước (ha)

77142

81692

104000

104000

Diện tích chè kinh doanh (ha)

70192

70192

92500

104000

Diện tích chè trồng mới (ha)

4350

4550

2800

-

Năng suất bình quân (tấn tươi/ha)

3,82

4,23

6,1

7,5

Sản lượng búp tươi (tấn)

267400

297000

564250

780000

Sản lượng chè khô (tấn)

59600

66000

125000

173000

Sản lượng xuất khẩu (tấn)

37000

42000

78000

120000

Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD)

50

60

120

220

c giải pháp:

Nâng cao chất lượng chè búp tươi và chè thành phẩm

+ Nâng cao chất lượng chè búp tươi để cải thiện chất lượng sản phẩm xuất khẩu tăng sức cạnh tranh trên thương trường quốc tế, bằng cách:

- Đưa giống mới có chất lượng cao chiếm một tỷ lệ thích đáng trong cơ cấu nguyên liệu chế biến.

- Từng bước cải tạo đất theo hướng tăng độ mùn và tơi xốp.

- Đưa máy đốn, máy hái và các dụng cụ làm đất vào canh tác.

+ Nâng cao chất lượng chè đen xuất khẩu, bằng cách chỉ sản xuất và xuất khẩu chè đen được chế biến từ các dây chuyền thiết bị hiện đại và bảo đảm vệ sinh công nghiệp.

Đối với chè xanh, tổ chức chế biến theo hộ gia đình bằng thiết bị nhỏ nhưng hiện đại để nâng cao giá trị hàng hóa.

Quy hoạch vùng nguyên liệu:

Từ nay đến năm 2000 tập trung pháp triển sản xuất chè tại 8 tỉnh phía Bắc: Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lao Cai, Thái Nguyên, Phú Thọ và tỉnh Lâm Đồng.

Đối với các vườn chè tập trung hiện có thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Yên Bái, Lao Cai, Lai Châu, Sơn La, Phú Thọ và Lâm Đồng, tập trung thâm canh cao, đảm bảo mật độ trồng dặm và bổ sung 30% diện tích bằng các giống chè mới.

Xây dựng vùng chè cao sản ở Mộc Châu - Sơn La (5000ha) và từ Than Uyên - Lao Cai lên Tam Đường - Lai Châu (3000 ha) để sản xuất ra các loại chè có chất lượng cao và chè hữu cơ.

Về giống chè:

Lấy Viện nghiên cứu chè làm nòng cốt - xúc tiên việc khu vực hóa, nhân và đưa nhanh các giống có năng suất cao, chất lượng tốt vào các vườn chè.

Tại các đơn vị sản xuất chè, khôi phục các vườn giống chè, sử dụng các giống mới có chất lượng cao nhằm cung cấp giống cho trồng dặm, trồng mới của dân, mục tiêu đến năm 2005 phải có được 30% diện tích chè bằng giống có chất lượng cao.

Đầu tư tưới cho các vườn chè tập trung có điều kiện về nguồn nước để nâng cao năng suất.

Giải pháp về vốn:

Với mức vốn đầu tư trong vòng 12 năm từ 1999-2010 là 4376,125tỷ đồng sẽ sản xuất ra được 1409000 tấn sản phẩm chè búp khô với giá bán bình quân 20 triệu đồng thì tổng doanh thu là 28185 tỷ đồng.

Về thị trường,đáp ứng yêu cầu trong nước, duy trì, mở rộng các bạn hàng ở Đông
âu, SNG, Trung Đông... Đa dạng hóa sản phẩm tổng hợp có chè và khai thác các sản phẩm từ đất chè

Chế biến công nghiệp:Tập trung đầu tư cải tạo, nâng cấp số cơ sở chế biến công nghiệp. Hiện đại hoá khâu hút bụi để đảm bảo vệ sinh, thay lò nhiệt đốt than bằng đốt dầu để tăng chất lượng chè. ở vùng sâu, vùng xa đầu tư xây dựng xưởng chế biến công suất nhỏ, với công nghệ thiết bị phù hợp.

Đối với những vùng địa bàn quá phức tạp và xa cơ sở chế biến công nghiệp, trang bị các máy sao, vò cỡ nhỏ từ 50-200kg tươi/ngày để phục vụ nội tiêu và cung cấp cho các nhà máy đấu trộn, tinh chế.

Tăng cường đâù tư cán bộ kỹ thuật (nông nghiệp ,chế biến...) và tập huấn khuyến nông cho người trồng chè.

* *

*

Để tạo điều kiện cho ngành chè phát triển, đạt được những mục tiêu và thực hiện được các giải pháp xin kiến nghị như sau:

+ Cần tổ chức và phân công lại sản xuất của ngành chè: Các địa phương chịu trách nhiệm về sản xuất nông nghiệp và chế biến, nhất là chế biến nhỏ. Các doanh nghiệp quy mô lớn sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu. Tổng công ty chè Việt Nam cùng với các công ty, xí nghiệp làm tốt công tác thị trường, bao tiêu sản phẩm và cung ứng vật tư, thiết bị chuyên dùng có chất lượng cao.

+ Chính phủ cần ban hành những chính sách khuyến khích sản xuất chè như: Chính sách đầu tư cho vay trồng mới chè và xây dựng, cải tạo các nhà máy chè. Đề nghị miễn thuế 5 năm cho các diện tích chè phục hồi và trồng mới trên đất dốc. Miễn thuế 5 năm cho các sản phẩm thu từ việc tận dụng đất đai và chế biến các sản phẩm mới. Cho phép các xí nghiệp liên doanh với nước ngoài được hưởng các chế độ như doanh nghiệp trong nước. Nhà nước đầu tư đường điện, giao thông và các cơ sở phục vụ công cộng khác.

+ Cho phép ngành chè được thành lập Quỹ bình ổn giá để ổn định giá mua chè tươi cho nhân dân và dự phòng một lượng chè xuất khẩu hợp lý nhằm giữ giá chè xuất khẩu.

+ Hiện nay việc quản lý chất lượng chè xuất khẩu chưa có tổ chức nào chịu trách nhiệm trước Nhà nước, do vậy cần thống nhất quản lý Ngành về chất lượng sản phẩm chè xuất khẩu.

 

 

 

Cập nhật ( 02/01/2010 )
 
Tiếp >
 
 

Copyright © 2007 CÔNG TY CỔ PHẦN CHÈ MINH RỒNG . ALLRIGHT RESERVED.
Lộc Thắng - Bảo Lâm - Lâm Đồng - Việt Nam
ĐT : (063).877 121 - 877 051 | FAX: (063).961 815

Designed by ESC